Dieu tri viem gan sieu vi b ngay hom nay

Thảo luận trong 'Mua Bán Tất Cả Các Mặt Hàng Khác' bắt đầu bởi dtrigan1412, 11/9/17.

    I/giới thiệu:

    Nhiễm virus viêm gan B là một trong những bệnh nhiễm phổ biến nhất của loài người . Khoảng 2 tỉ người đã nhiễm siu vi B và 350 triệu người trở nên nhiễm mạn tính . Khoảng 25%---40% sẽ chết dần dần vì bệnh gan như: xơ gan , ung thư gan, tỉ lệ tư vong ở nam là 50% và ở nữ là 15%. Vì vậy việc phát triển điều trị viêm gan B có hiệu quả là rất cần thiết . Các nhà khoa học luôn nghiên cứu đưa vào thử nghiệm các loại thuốc mới để điều trị viêm gan B mạnn tính . Sau đây chúng tôi sẽ trình bày các thuốc đang điều trị hiệu quả và các thuốc , các phương pháp sẽ ứng dụng điều trị trong tương lai.

    [​IMG]

    II/những thuốc hiện đang dùng điều trị:

    A/ quan điểm điều trị:

    Mục đích điều trị là làm mất virus , mất HBsAg.
    Điều này có nghĩa là số lượng virus nhỏ hơn 100.000 copy/ml khi HBeAg dương tính; virus nhỏ hơn 10.000 copy/ml khi HBeAg âm tính.
    Những thuốc điều trị hiện có: Interferon alfa , Peginterferon alfa, các nucleoside: Lamivudine, Adefovir dipivoxil, Entecavir… điều trị bằng nucleoside thường phải kéo dài thời gian điều trị để duy trì sự ức chế siêu vi . Sự chuyển đổi huyết thanh HbeAg dùng để quyết định thời gian duy trì điều trị với nucleoside. Người ta nghiên cứu thấy rằng bệnh nhân được điều trị bằng Interferon alfa có khả năng mất HBsAg nhiều gấp 6 lần bệnh nhân không điều trị . Theo dõi thời gian dài ( từ 1---11 năm , trung bình 6,2 năm) bệnh nhân HbeAg dương tính 71% đáp ứng điều trị lâu dài và HBsAg trở thành âm tính . Ngược lại người ta thấy rằng bệnh nhân điều trị bằng nucleoside một năm , tỉ lệ HBsAg trở thành âm tính không cao hơn so với nhóm không điều trị . Vấn đề kết hợp điều trị Interferon alfa và nucleoside cần được nghiên cứu.

    Tham Khảo thêm về Bác Sĩ Gan: https://bacsigan.com/

    B/ interferon alfa

    Tác dụng trực tiếp trên hệ thống miễn dịch , kích thích hoạt động tế bào lympho T . Vì vậy có hiện tượng tăng men ALT tạm thời trong giai đoạn đầu điều trị Interferon (gọi là hiện tượng flares) . Quan sát thấy rằng bệnh nhân trong quá trình điều trị có hiện tượng flares có khả năng mất HBsAg nhiều hơn nhóm không có hiện tượng flares. HBsAg có thể biến mất trong quá trình điều trị Interferon do phá hủy tế bào độc của gan và làm mất cccDNA (đoạn gen đóng vai trò quan trọng trong việc nhân đôi và đột biến virus). Trong tương lai sẽ phát triển kỹ thuật đo nồng độ cccDNA. Tỉ lệ mất HBeAg và HBVDNA là 33—37% ở nhóm bệnh nhân HBeAg dương tính, sau thời gian dài tỉ lệ chuyển đổi huyết thanh 90% và khoảng 20—70% bệnh nhân này sẽ mất HbsAg. Những bệnh nhân nồng độ siêu vi thấp , men ALT tăng , có bằng chứng viêm và hoại tử tế bào gan sẽ cho đáp ứng điều trị cao. Những bệnh nhân nam , thời gian bệnh kéo dài, người châu Á, đột biến precore , đồng nhiễm HIV sẽ cho đáp ứng điều trị kém.

    III/những thuốc đang nghiên cứu phát triển:


    1.CLEVUDINE
    Clevudine là một chất tương tự pyrimidine với họat tính chống lại HBV có hiệu quả. Nó có khả năng sinh học tốt và không có độc hại rõ ràng đối với chuột và chuột chũi. Hiệu quả của clevudine đã được đánh giá trong một thử nghiệm phase 2 ngẫu nhiên, mù đôi so sánh 30 mg/ ngày và 50 mg/ ngày với placebo. Clevudine đã được theo dõi trong 12 tuần và những bệnh nhân đã tiếp tục trong 24 tuần sau khi kết thúc điều trị. Sự giảm trung bình mức HBV DNA ở tuần 12 l 4.2 v v 4.5 log10 copies/ ml ở nhóm liều 30 mg/ ngày và 50 mg/ ngày đã được báo cáo. Không giống như hầu hết các chất tương tự nucleoside, không có việc tăng lại số lượng HBV DNA được quan sát thấy sau khi ngừn điều trị clevudine, với việc giảm tiếp tục HBV DNA từ 3.6 xuống 3.2 log10 copies/ ml, v 2.6 xuống 1.8 log10 copies/ ml ở tuần 24 sau khi ngừng điều trị.
    Một nghiên cứu khác đa trung tâm với liều tăng dần clevudine 10 mg, 50 mg, 100 mg, và 200 mg trong 28 ngày bao gồm chủ yếu là người châu Á (81%) HBeAg – dương tính (88%; n= 27) đã cho thấy rằng một việc giảm mức HBV DNA trung bình l 2.5, 2.7, 3.0 v 2.5 log10 copies/ ml từ vạch giới hạn của mỗi liều. tại sau thời điểm 24 tuần sau điều trị, việc giảm trung bình HBV DNA vẫn tiếp tục l 1.2, 1.4, 2.7. v 1.7 log10copies/ ml đối với từng liều 10 mg, 50 mg, 100 mg, và 200 mg ở từng nhóm bệnh nhân. Sáu trong số 27 bệnh nhân HBeAg dương tính đã mất HBeAg trong đó 3 trong 27 bệnh nhân HBeAg dương tính đã chuyển đổi huyết thanh anti- HBe.
    2.EMTRICITABINE
    Emtricitabine có cấu tạo phân tử tương tự và có khả năng chống virus và tính chọn lọc như lamivudine ở chuột chũi. Những kết quả ban đầu từ một nghiên cứu kiểm chứng với placebo phase 3 ở những bệnh nhân điều trị cơ bản đã chứng minh rằng 48 tuần với emtricitabine thì giảm HBV DNA l trung bình 3 log10 copies/ ml. Tuy nhiên, bởi vì emtricitabine cĩ sự lin quan cấu trúc đối với lamivudine, nên tỉ lệ đột biến YMDD là khoảng 9 đến 13% ở tuần 48 và 19 % ở tuần 96. Dựa vào điều này, thì khó có khả năng mà emtricitabine sẽ có một vai trò trong việc điều trị HBV mạn tính khác hơn như là một phần của một điều trị phối hợp.
    Những kết quả ban đầu so sánh việc điều trị adefovir dipivoxil phối hợp với emtricitabine với việc đơn điều trị adefovir dipivoxil cho thấy một việc giảm nhiều hơn HBV DNA trong nhóm điều trị phối hợp tại tuần 24 và tuần 48 điều trị. Bằng phương thức tóan học về động lực học HBV giai đoạn sớm (đầu) cho thất một sự giảm cao hơn có ý nghĩa thống kê những tế bào đã bị nhiễm ở nhóm điều trị phối hợp khi so với nhóm đơn điều trị. Động lực học HBV sớm cũng cho thấy 2 nhóm bệnh nhân: những người đã sạch virus (HBV DNA < 300 copies/ ml) ở tuần 12 (những người đáp ứng nhanh) và những người không đáp ứng (HBV DNA > 300 copies/ ml). Những người đáp ứng nhanh đã có một sự tiêu diệt nhiều hơn những tế bào bị nhiễm so với những người đáp ứng chậm. Những bệnh nhân dùng điều trị phối hợp có nhiều khả năng hơn để là người đáp ứng nhanh hơn so với những người đơn trị liệu.
    3.PRADEFOVIR
    Giống như adefovir, pradefovir là một tiền chất của thuốc PMEA hoạt động chống lại HBV. Không như adefovir, pradefovir được vận chuyển đến gan cònn nguyên vẹn, và được hoạt hoá ở đó nhờ cytochrome P450 enzyme CYP3A4. Những nghiên cứu ở động vật cho thấy rằng trong khi có những hàm lượng cao thuốc có hoạt tính được tìm thấy ở gan, thuốc không hoạt tính được tìm thấy ở thận. Sự khác nhau này trong chuyển hóa được ước đoán để làm giảm bớt một vài triệu chứng thận mà có thể làm xảy ra bởi việc dùng adefovir.
    Một thử nghiệm phase 1 gần đây đã kiểm tra sự an tòan và dược động lực học của pradefovir tại những liều khác nhau sau 28 ngày điều trị ở những bệnh nhân viêm gan virus B mạn. Những kết quả chỉ ra rằng pradefovir đã được hấp thu một cách dễ dàng để thành PMEA; nồng độ thuốc và độ thanh thải tương ứng với liều. Tất cả những liều đã được kiểm tra thì đều mạnh hơn placebo, và liều 60 mg/ ngày đưa đến việc giảm 3 log10 số lượng virus. Sau sự hứa hẹn hoạt tính virus học, và phân tích tính an toàn cho thấy một ít điều bất lợi, và những ảnh hưởng thận không có ý nghĩa, những nghiên cứu phase 2 cần phải thực hiện.
    4.LY582563 (MCC- 478)
    LY582563 là một chất tương tự nucleoside mới mà được phát triển lần đầu ở Nhật và đang được tham gia phase 2 nghiên cứu. Nó là một fluorinated phosphonomethoxyethyl purine với sự tương tự cấu trúc adefovir. Những nghiên cứu ban đầu đã đánh giá là nhạy cảm với HBV type hoang dại và những đột biến đề kháng lamivudine được dùng LY582563 .Tương tự như adefovir dipivoxil và entecavir, LY582563 đã được quan sát trong ống nghiệm là hiệu quả tương đương chống lại HBV type hoang dã và những đột biến M204l, M204V, và L180M/ M204V mà xảy ra đề kháng đối với lamivudine. Tuy nhiên, đột biến N236T liên quan tới sự đề kháng adefovir thì không nhạy đối với chất này. Khi so sánh EC50 của chất này với những chất đang phát triển khác, LY582563 cho thấy hiệu lực mạnh thứ hai sau entecavir.

    Nguồn: drthuthuy.com
    1. Nơi ở:

      Toàn Quốc
    2. Tình Trạng:

      Mới
    3. Giá:

      1,000 VNĐ
    4. Số Điện Thoại:

      01653163756
    5. Địa Chỉ:

      so 2 truong quoc dung
    6. Thông Tin:

      11/9/17, 0 Phản hồi, 59 Đọc
  1. dtrigan1412 New Member
    13
    0
    1
    dtrigan1412

    dtrigan1412 New Member Thượng Đế

    Tham gia ngày:
    5/8/17
    Bài gửi:
    13
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    1
    Giới tính:
    Nữ
    I/giới thiệu:

    Nhiễm virus viêm gan B là một trong những bệnh nhiễm phổ biến nhất của loài người . Khoảng 2 tỉ người đã nhiễm siu vi B và 350 triệu người trở nên nhiễm mạn tính . Khoảng 25%---40% sẽ chết dần dần vì bệnh gan như: xơ gan , ung thư gan, tỉ lệ tư vong ở nam là 50% và ở nữ là 15%. Vì vậy việc phát triển điều trị viêm gan B có hiệu quả là rất cần thiết . Các nhà khoa học luôn nghiên cứu đưa vào thử nghiệm các loại thuốc mới để điều trị viêm gan B mạnn tính . Sau đây chúng tôi sẽ trình bày các thuốc đang điều trị hiệu quả và các thuốc , các phương pháp sẽ ứng dụng điều trị trong tương lai.

    [​IMG]

    II/những thuốc hiện đang dùng điều trị:

    A/ quan điểm điều trị:

    Mục đích điều trị là làm mất virus , mất HBsAg.
    Điều này có nghĩa là số lượng virus nhỏ hơn 100.000 copy/ml khi HBeAg dương tính; virus nhỏ hơn 10.000 copy/ml khi HBeAg âm tính.
    Những thuốc điều trị hiện có: Interferon alfa , Peginterferon alfa, các nucleoside: Lamivudine, Adefovir dipivoxil, Entecavir… điều trị bằng nucleoside thường phải kéo dài thời gian điều trị để duy trì sự ức chế siêu vi . Sự chuyển đổi huyết thanh HbeAg dùng để quyết định thời gian duy trì điều trị với nucleoside. Người ta nghiên cứu thấy rằng bệnh nhân được điều trị bằng Interferon alfa có khả năng mất HBsAg nhiều gấp 6 lần bệnh nhân không điều trị . Theo dõi thời gian dài ( từ 1---11 năm , trung bình 6,2 năm) bệnh nhân HbeAg dương tính 71% đáp ứng điều trị lâu dài và HBsAg trở thành âm tính . Ngược lại người ta thấy rằng bệnh nhân điều trị bằng nucleoside một năm , tỉ lệ HBsAg trở thành âm tính không cao hơn so với nhóm không điều trị . Vấn đề kết hợp điều trị Interferon alfa và nucleoside cần được nghiên cứu.

    Tham Khảo thêm về Bác Sĩ Gan: https://bacsigan.com/

    B/ interferon alfa

    Tác dụng trực tiếp trên hệ thống miễn dịch , kích thích hoạt động tế bào lympho T . Vì vậy có hiện tượng tăng men ALT tạm thời trong giai đoạn đầu điều trị Interferon (gọi là hiện tượng flares) . Quan sát thấy rằng bệnh nhân trong quá trình điều trị có hiện tượng flares có khả năng mất HBsAg nhiều hơn nhóm không có hiện tượng flares. HBsAg có thể biến mất trong quá trình điều trị Interferon do phá hủy tế bào độc của gan và làm mất cccDNA (đoạn gen đóng vai trò quan trọng trong việc nhân đôi và đột biến virus). Trong tương lai sẽ phát triển kỹ thuật đo nồng độ cccDNA. Tỉ lệ mất HBeAg và HBVDNA là 33—37% ở nhóm bệnh nhân HBeAg dương tính, sau thời gian dài tỉ lệ chuyển đổi huyết thanh 90% và khoảng 20—70% bệnh nhân này sẽ mất HbsAg. Những bệnh nhân nồng độ siêu vi thấp , men ALT tăng , có bằng chứng viêm và hoại tử tế bào gan sẽ cho đáp ứng điều trị cao. Những bệnh nhân nam , thời gian bệnh kéo dài, người châu Á, đột biến precore , đồng nhiễm HIV sẽ cho đáp ứng điều trị kém.

    III/những thuốc đang nghiên cứu phát triển:


    1.CLEVUDINE
    Clevudine là một chất tương tự pyrimidine với họat tính chống lại HBV có hiệu quả. Nó có khả năng sinh học tốt và không có độc hại rõ ràng đối với chuột và chuột chũi. Hiệu quả của clevudine đã được đánh giá trong một thử nghiệm phase 2 ngẫu nhiên, mù đôi so sánh 30 mg/ ngày và 50 mg/ ngày với placebo. Clevudine đã được theo dõi trong 12 tuần và những bệnh nhân đã tiếp tục trong 24 tuần sau khi kết thúc điều trị. Sự giảm trung bình mức HBV DNA ở tuần 12 l 4.2 v v 4.5 log10 copies/ ml ở nhóm liều 30 mg/ ngày và 50 mg/ ngày đã được báo cáo. Không giống như hầu hết các chất tương tự nucleoside, không có việc tăng lại số lượng HBV DNA được quan sát thấy sau khi ngừn điều trị clevudine, với việc giảm tiếp tục HBV DNA từ 3.6 xuống 3.2 log10 copies/ ml, v 2.6 xuống 1.8 log10 copies/ ml ở tuần 24 sau khi ngừng điều trị.
    Một nghiên cứu khác đa trung tâm với liều tăng dần clevudine 10 mg, 50 mg, 100 mg, và 200 mg trong 28 ngày bao gồm chủ yếu là người châu Á (81%) HBeAg – dương tính (88%; n= 27) đã cho thấy rằng một việc giảm mức HBV DNA trung bình l 2.5, 2.7, 3.0 v 2.5 log10 copies/ ml từ vạch giới hạn của mỗi liều. tại sau thời điểm 24 tuần sau điều trị, việc giảm trung bình HBV DNA vẫn tiếp tục l 1.2, 1.4, 2.7. v 1.7 log10copies/ ml đối với từng liều 10 mg, 50 mg, 100 mg, và 200 mg ở từng nhóm bệnh nhân. Sáu trong số 27 bệnh nhân HBeAg dương tính đã mất HBeAg trong đó 3 trong 27 bệnh nhân HBeAg dương tính đã chuyển đổi huyết thanh anti- HBe.
    2.EMTRICITABINE
    Emtricitabine có cấu tạo phân tử tương tự và có khả năng chống virus và tính chọn lọc như lamivudine ở chuột chũi. Những kết quả ban đầu từ một nghiên cứu kiểm chứng với placebo phase 3 ở những bệnh nhân điều trị cơ bản đã chứng minh rằng 48 tuần với emtricitabine thì giảm HBV DNA l trung bình 3 log10 copies/ ml. Tuy nhiên, bởi vì emtricitabine cĩ sự lin quan cấu trúc đối với lamivudine, nên tỉ lệ đột biến YMDD là khoảng 9 đến 13% ở tuần 48 và 19 % ở tuần 96. Dựa vào điều này, thì khó có khả năng mà emtricitabine sẽ có một vai trò trong việc điều trị HBV mạn tính khác hơn như là một phần của một điều trị phối hợp.
    Những kết quả ban đầu so sánh việc điều trị adefovir dipivoxil phối hợp với emtricitabine với việc đơn điều trị adefovir dipivoxil cho thấy một việc giảm nhiều hơn HBV DNA trong nhóm điều trị phối hợp tại tuần 24 và tuần 48 điều trị. Bằng phương thức tóan học về động lực học HBV giai đoạn sớm (đầu) cho thất một sự giảm cao hơn có ý nghĩa thống kê những tế bào đã bị nhiễm ở nhóm điều trị phối hợp khi so với nhóm đơn điều trị. Động lực học HBV sớm cũng cho thấy 2 nhóm bệnh nhân: những người đã sạch virus (HBV DNA < 300 copies/ ml) ở tuần 12 (những người đáp ứng nhanh) và những người không đáp ứng (HBV DNA > 300 copies/ ml). Những người đáp ứng nhanh đã có một sự tiêu diệt nhiều hơn những tế bào bị nhiễm so với những người đáp ứng chậm. Những bệnh nhân dùng điều trị phối hợp có nhiều khả năng hơn để là người đáp ứng nhanh hơn so với những người đơn trị liệu.
    3.PRADEFOVIR
    Giống như adefovir, pradefovir là một tiền chất của thuốc PMEA hoạt động chống lại HBV. Không như adefovir, pradefovir được vận chuyển đến gan cònn nguyên vẹn, và được hoạt hoá ở đó nhờ cytochrome P450 enzyme CYP3A4. Những nghiên cứu ở động vật cho thấy rằng trong khi có những hàm lượng cao thuốc có hoạt tính được tìm thấy ở gan, thuốc không hoạt tính được tìm thấy ở thận. Sự khác nhau này trong chuyển hóa được ước đoán để làm giảm bớt một vài triệu chứng thận mà có thể làm xảy ra bởi việc dùng adefovir.
    Một thử nghiệm phase 1 gần đây đã kiểm tra sự an tòan và dược động lực học của pradefovir tại những liều khác nhau sau 28 ngày điều trị ở những bệnh nhân viêm gan virus B mạn. Những kết quả chỉ ra rằng pradefovir đã được hấp thu một cách dễ dàng để thành PMEA; nồng độ thuốc và độ thanh thải tương ứng với liều. Tất cả những liều đã được kiểm tra thì đều mạnh hơn placebo, và liều 60 mg/ ngày đưa đến việc giảm 3 log10 số lượng virus. Sau sự hứa hẹn hoạt tính virus học, và phân tích tính an toàn cho thấy một ít điều bất lợi, và những ảnh hưởng thận không có ý nghĩa, những nghiên cứu phase 2 cần phải thực hiện.
    4.LY582563 (MCC- 478)
    LY582563 là một chất tương tự nucleoside mới mà được phát triển lần đầu ở Nhật và đang được tham gia phase 2 nghiên cứu. Nó là một fluorinated phosphonomethoxyethyl purine với sự tương tự cấu trúc adefovir. Những nghiên cứu ban đầu đã đánh giá là nhạy cảm với HBV type hoang dại và những đột biến đề kháng lamivudine được dùng LY582563 .Tương tự như adefovir dipivoxil và entecavir, LY582563 đã được quan sát trong ống nghiệm là hiệu quả tương đương chống lại HBV type hoang dã và những đột biến M204l, M204V, và L180M/ M204V mà xảy ra đề kháng đối với lamivudine. Tuy nhiên, đột biến N236T liên quan tới sự đề kháng adefovir thì không nhạy đối với chất này. Khi so sánh EC50 của chất này với những chất đang phát triển khác, LY582563 cho thấy hiệu lực mạnh thứ hai sau entecavir.

    Nguồn: drthuthuy.com
     
    Tag:
    Đang tải...
Đang tải...